Phép chia có dư - Phép chia kéo dài - Dạy Phép chia với các số lớn - Phương pháp chia cho bội - Phép chia số lớn http://bit.ly/PhepChia

ViOlympic Tiếng Anh - Chọn Trình độ và Bài thi Trong Box bên dưới!

Level A Level B Level C TOEFL Incorrect word TOEFL reading comprehension Synonym TOEFL

Tiếng Anh hàng ngày



Có chuyện gì vậy? ----> What's up?
Dạo này ra sao rồi? ----> How's it going?
Dạo này đang làm gì? ----> What have you been doing?
Không có gì mới cả ----> Nothing much
Bạn đang lo lắng gì vậy? ----> What's on your mind?
Tôi chỉ nghĩ linh tinh thôi ----> I was just thinking
Tôi chỉ đãng trí đôi chút thôi ----> I was just daydreaming
Không phải là chuyện của bạn ----> It's none of your business
Vậy hã? ----> Is that so?
Làm thế nào vậy? ----> How come?
Chắc chắn rồi! ----> Absolutely!
Quá đúng! ----> Definitely!
Dĩ nhiên! ----> Of course!
Chắc chắn mà ----> You better believe it!
Tôi đoán vậy ----> I guess so
Làm sao mà biết được ----> There's no way to know.
Tôi không thể nói chắc ---> I can't say for sure ( I don't know)
Chuyện này khó tin quá! ----> This is too good to be true!
Thôi đi (đừng đùa nữa) ----> No way! ( Stop joking!)
Tôi hiểu rồi ----> I got it
Quá đúng! ----> Right on! (Great!)
Tôi thành công rồi! ----> I did it!
Có rảnh không? ----> Got a minute?
Đến khi nào? ----> 'Til when?
Vào khoảng thời gian nào? ----> About when?
Sẽ không mất nhiều thời gian đâu ----> I won't take but a minute
Hãy nói lớn lên ----> Speak up
Có thấy Melissa không? ----> Seen Melissa?
Thế là ta lại gặp nhau phải không? ----> So we've met again, eh?
Đến đây ----> Come here
Ghé chơi ----> Come over
Đừng đi vội ----> Don't go yet
Xin nhường đi trước. Tôi xin đi sau ----> Please go first. After you
Cám ơn đã nhường đường ----> Thanks for letting me go first
Thật là nhẹ nhõm ----> What a relief
What the hell are you doing? ----> Anh đang làm cái quái gì thế kia?
Bạn đúng là cứu tinh.Tôi biết mình có thể trông cậy vào bạn mà ----> You're a life saver. I know I can count on you.
Đừng có giả vờ khờ khạo! ----> Get your head out of your ass!
Xạo quá! ----> That's a lie!
Làm theo lời tôi ----> Do as I say
Đủ rồi đó! ----> This is the limit!
Hãy giải thích cho tôi tại sao ----> Explain to me why
Ask for it! ----> Tự mình làm thì tự mình chịu đi!
... In the nick of time: ----> ... thật là đúng lúc
No litter ----> Cấm vất rác
Go for it! ----> Cứ liều thử đi
Yours! As if you didn't know ----> của you chứ ai, cứ giả bộ không biết.
What a jerk! ----> thật là đáng ghét
No business is a success from the beginning ----> vạn sự khởi đầu nan
What? How dare you say such a thing to me ----> Cái gì, ...mài dám nói thế với tau à
How cute! ----> Ngộ ngĩnh, dễ thương quá!
None of your business! ----> Không phải việc của bạn
Don't stick your nose into this ----> đừng dính mũi vào việc này
Don't peep! -----> đừng nhìn lén!
What I'm going to do if.... ----> Làm sao đây nếu ...
Stop it right a way! ----> Có thôi ngay đi không
A wise guy, eh?! ----> Á à... thằng này láo
You'd better stop dawdling ----> Bạn tốt hơn hết là không nên la cà
[Đọc chi tiết...]


John & Linh giải đáp



Hôm nay John & Linh chọn ra một số câu hỏi “khó nhằn” của bạn đọc để giải đáp.
Linh: Trong thời gian vừa rồi, John & Linh đã nhận được rất nhiều thư qua hòm thư john.linh@aac.edu.vn, ngoài việc bày tỏ sự yêu mến đối với John & Linh nói riêng và chuyên mục của chúng ta nói chung, hầu hết các bạn đều có những băn khoăn, những thắc mắc hay những câu hỏi “khó nhằn” nhờ John & Linh giải đáp.

John & Linh: Xin một lần nữa cám ơn các quý vị độc giả.
John: Hôm nay, John & Linh sẽ chọn ra phản hồi một số câu hỏi của bạn đọc.
Linh: Bạn Nguyen Hien (xin được phép giữ kín địa chỉ email của bạn Hien) có hỏi thành ngữ “Show me a bunlded_up kid and I'll show you a cold mother”.
John & Linh: Trước tiên, John & Linh chắc rằng chính xác bạn đang muốn nhắc đề cập đến câu “Show me a bundled-up kid and I'll show you a cold mother” (chứ không phải bunlded_up).
Tiếp đến, chúng tôi không dám chắc đây có phải là một thành ngữ hay không vì thực sự chúng tôi chưa thấy câu này được sử dụng như một thành ngữ bao giờ. Sẽ tốt hơn nếu bạn cung cấp được cho chúng tôi ngữ cảnh của câu nói trên. Có thể đây chỉ là cách nói “văn hoa” để nhấn mạnh ý muốn nói của một người nào đó mà thôi.

Câu nói này có nghĩa là “Chỉ cho tôi 1 đứa bé được mặc ấm và tôi sẽ chỉ cho bạn thấy một bà mẹ đang bị lạnh”. Theo John & Linh, câu nói này muốn đề cao đức hy sinh cao cả, tình yêu thương bao la của những người mẹ, rằng các bà mẹ luôn dành những gì tốt đẹp nhất cho con cái của mình và chính mình nhận lấy những phần thiệt thòi hơn.
John: Bạn Nguyen Nam chia sẻ băn khoăn rằng có nên sử dụng thành ngữ trong giao tiếp hàng ngày hay chỉ nên sử dụng những câu với cấu trúc đơn giản.
 

John & Linh: Bạn Nam thân mến. Trong giao tiếp, chú trọng nhất đến khả năng diễn đạt và hiệu quả nghe-hiểu, chính vì vậy bạn có thể sử dụng các câu đơn giản nếu chúng giúp bạn diễn đạt được tốt hơn ý của mình.
Tuy nhiên, ít nhất có 2 lý do để nếu có điều kiện, bạn nên tìm hiểu thêm về cách dùng các thành ngữ:
Thứ nhất, nắm bắt các thành ngữ sẽ giúp bạn dễ dàng hơn trong việc nghe hiểu. Thứ hai, việc sử dụng các thành ngữ sẽ làm cho giao tiếp tiếng Anh của bạn được phong phú hơn, làm cho việc “học và hành” trở nên thú vị hơn. Khi bạn thấy cái gì đó thú vị, tin chắc rằng bạn sẽ thích học và thích dùng nó hơn.
Linh: Bạn Bui Van Anh thì lại muốn hỏi về sự khác nhau giữa would rather và would prefer.
John & Linh: Về nghĩa, giữa chúng gần như không có sự khác biệt (thích hơn), chúng ta có thể sử dụng cách nào cũng được. Về cấu trúc ngữ pháp thì lại có sự phân biệt nhất định.
-         Would rather do A (than do B) - Tôi thích làm việc A (hơn là làm việc B).
I would rather stay at home and study.
-         Would rather + mệnh đề (lưu ý về thì)
Mum would rather that we would go tomorrow - Tomorrow là dấu hiệu của thì tương lai, đáng nhẽ phải dùng will nhưng do sử dụngwould rather, ta phải giảm thì của mệnh đề sau xuống: will => would.
-         Would prefer to do A (rather than do B) - Tôi thích làm việc A (hơn là làm việc B)
Chúc các bạn thêm yêu thích tiếng Anh và sử dụng tiếng Anh thật tốt trong học tập, trong công việc cũng như trong cuộc sống hàng ngày của mình.


John & Linh: Hẹn gặp lại vào tuần sau!
[Đọc chi tiết...]


Tìm hiểu từ “Look” trong tiếng Anh



Theo đề nghị của nhiều bạn đọc, hôm nay John và Linh sẽ cùng các bạn trao đổi về từ “Look” trong tiếng Anh nhé.
John: Sau khi bài viết Thú vị từ Make trong tiếng Anh, đã có khá nhiều comment và email gửi về địa chỉ john.linh@aac.edu.vn để động viên và yêu cầu giải đáp các thắc mắc cũng như đóng góp ý tưởng cho chuyên mục của chúng ta.
Linh: John & Linh rất cảm ơn các bạn đã thực sự dành sự quan tâm tới chuyên mục cũng như dành tình cảm yêu mến cho John & Linh.
John: Do có nhiều bạn chia sẻ rằng muốn John & Linh có một bài tương tự về từ Look, hôm nay John và Linh sẽ cùng trao đổi về từ này nhé.
Linh: Về cơ bản thì có thể tra từ điển chúng ta cũng biết được nghĩa và cách dùng của các từ rồi. Tuy nhiên, trong giao tiếp hàng ngày, nếu sử dụng linh hoạt các từ ghép hay các cách diễn đạt mang tính thực tế cao sẽ làm cho việc nói tiếng Anh của các bạn trở nên nhiều màu sắc và hứng thú hơn nữa.

John: Một số từ ghép hay sử dụng là look for; look after và look into với nghĩa theo thứ tự là là tìm kiếm; chăm sóc, trông nom và xem xét kỹ, nghiên cứu, điều tra.
Look up ngoài nghĩa là nhìn lên còn có nghĩa là tra cứu (ví dụ use the dictionary to look it up - lấy từ điển mà tra từ đó đi), là đi thăm (look up grandma - thăm bà).
Look up nếu sử dụng với to sẽ có nghĩa là kính trọng, ngưỡng mộ, coi người nào đó là tấm gương sáng để noi theo (He’s the kind of person that people look up to - Ông ấy là kiểu người mà mọi người luôn kính trọng/Ông ấy luôn là tấm gương sáng cho mọi người).
Linh: Ngược với nó là look down on/upon - xem thường ai đó, tỏ ra kẻ cả đối với ai đó.
John: Hôm vừa rồi anh thấy Linh gọt hoa quả, vừa gọt vừa “ăn vụng” nhé. May cho Linh là anh tốt bụng đã look the other way (cố tình làm lơ) đấy nhé, cuối cùng đĩa hoa quả còn có một nửa!
Linh: Look who’s talking (Xem ai đang nói kìa - ý là người kia cũng đã từng mắc lỗi lầm tương tự)! Hôm trước mẹ Linh làm nộm, thấy anh John cũng “ăn vụng” trong bếp đấy thôi. Don’t look daggersat me (nhìn một cách tức giận - ánh mắt hình viên đạn), Linh không kể cho ai nghe đâu (cười).
Giờ quay trở lại chủ đề chính nhé, anh John có biết look what the cat's dragged in! có ý gì không?
John: Có ý mỉa mai, miệt thị ai đó có bộ dạng lôi thôi lếch thếch như là cái thứ con mèo nó vừa kéo lê vào.
Linh: Đấy! Ấy thế mà hôm rồi Linh đi dự tiệc, có một bà này xấu tính lắm nhé. Thấy một bà khác đi vào, bà ấy nói thầm với bạn là Look what the cat's dragged in!
Xong rồi lúc bà kia đi tới, bà ta liền nói: Look who’s here (Trông ai đến này - có ý thu hút sự chú ý đến người mới đến)! You look like a million dollars in that dress (Trông chị mặc cái váy đó thật tuyệt)!
John: Thôi chết, còn có 15 phút nữa là đến giờ chiếu phim rồi! Look alive!(nhanh lên, khẩn trương lên)
Linh: Phim này chán bỏ xừ!
John: Này, don’t look a gift horse in the mouth! (đừng chỉ trích, đừng coi thường, đừng tỏ ra vô ơn đối với đồ được tặng hay những thứ không mất tiền để có)
Linh: Đùa tí mà đã dỗi rồi à! Thôi đi nào, anh John đã mua vé rồi thì Linh sẽ mời nước nhé!

John & Linh: Xin chào và hẹn gặp lại các bạn!
[Đọc chi tiết...]


Thú vị từ “Make” trong tiếng Anh



Hôm nay John và Linh chia sẻ với các bạn những cách sử dụng hay của các động từ ghép, các thành ngữ với từ make.
John: Chào Linh, sao lúc nào trông cũng không vui thế nhỉ? Phụng thể lại bất an à (mới học được từ này phải tranh thủ dùng ngay)?
Linh: Linh thi trượt bằng lái xe rồi anh John ạ, phải buồn chứ!
John: Tưởng gì, make light of it đi rồi mai kia lại thi tiếp chứ có gì đâu.
Linh: Make light of it là sao anh?
John: Linh không biết à? Make light of = treat as unimportant (xem như là không quan trọng). Ngược với nó là Make much of=treat as very important.
Cheer up! Trông kìa, mặt bí xị như sắp khóc rồi, lêu lêu!
Linh: Don’t make fun of me (make fun of= chế nhạo) - đừng có mà lôi em ra làm trò cười!
John: Á à, cũng biết dùng tiếng Anh quá nhỉ. Thế còn biết những “make” gì nữa nào?
Linh: Hơi bị siêu đấy! Linh còn biết make sense(hợp lý, có thể hiểu được): It doesn’t make any sense - Chẳng hợp lý gì cả, chẳng hiểu gì cả. Hay là make up someone’s mind là quyết định.
John: Đúng rồi. Make up trong các trường hợp khác còn có các nghĩa khác nữa:

Make up a story: Dựng nên một câu chuyện
She’s making up for a big show: Cô ấy đang trang điểm cho một buổi biểu diễn lớn.
Let me make it up to you: Để tôi đền cho bạn nhé.
You should make up with her: Hãy làm lành với cô ấy đi.
John: Nếu tra từ điển thì Make có rất nhiều nghĩa tương ứng với các cách dùng khác nhau nhưng có một số cách dùng hay và thường gặp trong thực tế, ví dụ như make believe ≈ pretend đã gặp trong bài hát nổi tiếng Thank you for loving me:
“If I tried, you'd make believe - Nếu như anh thử (nói dối), em sẽ vờ như
That you believed my lies - Rằng em tin những lời nói dối của anh”
Linh: Vậy make my peace with có nghĩa là gì?
John: Make someone’s peace with có nghĩa là cam chịu với cái gì đó.
Linh: Có cái make nào vui hơn không hả anh?
John: Make someone’s day chắc vui hơn. Ví dụ như Thank you very much for your gift. It really made my day! Có nghĩa là Rất cám ơn bạn về món quà. Nó làm tôi thực sự hạnh phúc!
Make ends meet (= make both ends meet) cũng vui nữa. Có nghĩa là xoay sở đủ sống, tức là những gì bạn làm ra thì đủ trang trải cho cuộc sống của bạn mà không thiếu thốn hay phải mắc nợ.
Linh: Linh cho 2 ví dụ, anh John thử giải thích cho Linh với từ make trong đó nhé:
- The appointment was at 6 p.m but she couldn’t make it there in time because of the traffic jam.
- After 10 years of striving, finally he made it as the most successful talent agent in town.
John: Make it trong 2 trường hợp này có nghĩa là thành công hay đạt được một cái gì hay một việc gì đó.
Trường hợp 1, cô ấy đã không thành công trong việc đến điểm hẹn: Có hẹn lúc 6 giờ tối nhưng cô ấy đã không thể đến đó kịp giờ vì kẹt xe quá.
Trường hợp 2, anh ấy đã thành công trong việc phấn đấu lập nghiệp của mình: Sau 10 năm nỗ lực phấn đấu, cuối cùng anh ấy đã trở thành người đại diện cho các nghệ sĩ thành công nhất trong thành phố.
John: Hôm nay dừng lại tại đây thôi nhé, anh phải đi rồi. Cố gắng make the most of (tận dụng hết, sử dụng tối đa) what you’ve learnt today!
Linh: Anh John đi mất rồi, chỉ còn Linh với các bạn, các bạn hãy cùng chia sẻ với Linh những cách sử dụng hay của các động từ ghép, các thành ngữ với make nhé!
Các bạn có thể gửi các đóng góp hay các mong muốn về những chủ đề để John và Linh cùng chia sẻ vào địa chỉ email john.linh@aac.edu.vn. Dù rất muốn nhưng John và Linh cũng không thể trả lời hết các email hay phản hồi tất cả các chủ đề, các đóng góp của các bạn được. Mong rằng vẫn tiếp tục nhận được những sự ủng hộ nhiệt tình từ các bạn để chuyên mục của chúng ta ngày một phát triển.

John & Linh: Xin chào và hẹn gặp lại vào tuần sau!
[Đọc chi tiết...]


Luôn nhìn vào mặt sáng của cuộc sống



Always look on the bright side of life

Trong tiếng Anh có một số câu hay được dùng để động viên người khác. Có thể là nói trực tiếp theo kiểu “hãy vui lên” hoặc cũng có thể theo kiểu văn hoa hơn một tí, đi vòng vèo một tí.
John: Hết Tết rồi mà Linh mua hoa đào làm gì thế?
Linh: Hoa đào đẹp mà anh John, một năm chỉ có một mùa.
John: Thấy bảo đào Hà Nội năm nay mất mùa, thế mà cuối cùng cũng không đến nỗi tệ lắm nhỉ.
Linh: Thì cuộc sống lúc nọ lúc kia, cứ lạc quan thì thể nào may mắn cũng đến, nhỉ!
John: Đúng rồi, always look on the bright side of life - luôn nhìn vào mặt sáng của cuộc sống!
Linh: À, đúng rồi, nhân tiện đây, anh John dạy Linh một số cách để khích lệ, an ủi người khác nhé.
John: Đơn giản thôi. Trong tiếng Anh có một số câu hay được dùng để cheer somebody up (động viên ai đó). Có thể là nói trực tiếp theo kiểu “hãy vui lên” hoặc cũng có thể theo kiểu văn hoa hơn một tí, đi vòng vèo một tí.
Linh: Cụ thể là như thế nào hả anh John?
John: Bình tĩnh nào. Khi thấy ai đó mặt mày “bí xị”, để động viên, đơn giản ta có thể nói Cheer up! (hoặc Chin up!), Lighten up! hay bảo bạn hãy cười lên Smile! Đây là những phương án thân mật và đơn giản nhất.
John: Khi có những chuyện không hay xảy ra, để an ủi, có thể nói rằng “Chưa phải ngày tận thế đâu” (It's not all doom and gloom! Hay It's not the end of the world!). Trong trường hợp này tiếng Anh có một câu rất hay đó là Worse things happen at sea với hàm ý rằng “bạn vẫn còn may mắn chán, những người đi biển còn có khả năng gặp phải những điều không hay hơn nữa kìa”.
Tương tự còn có It could be worse, có nghĩa là như vậy vẫn còn may chán. Câu này rất hay được dùng trong giao tiếp.
Linh: Người Việt Nam có câu Trong cái rủi vẫn có cái may, dịch sang tiếng Anh có câu nào tương tự không anh?
John: Để anh nghĩ xem nào… À, có câu Every cloud has a silver lining!
Linh: Để nói rằng cái xấu đã qua đi, ngày mai tươi sáng còn ở trước mặt thì nói thế nào hả anh?
John: Nếu như việc không may đã qua đi, có thể nói We've turned the corner, với ý rằng từ giờ trở đi mọi việc sẽ tốt đẹp. Hoặc cũng có thể nói There's no use crying over spilt milk để nói rằng việc xấu đã qua đi rồi, không đáng để than khóc, để buồn nữa.
Trong trường hợp chúng ta muốn khích lệ một người bạn đang gặp chuyện khó khăn, chúng ta có thể nói Nothing lasts forever! tức là chuyện gì cũng sẽ qua nhanh thôi. Hay cũng có thể động viên rằng There's a light at the end of the tunnel - qua cơn mưa trời lại sáng.         

Linh: Linh thấy người ta hay nói April showers, có nghĩa là gì hả anh John?
John: April showers là rút gọn của câu April showers bring May flowers. Ở nước Anh, tháng 4 thường có rất nhiều mưa lớn, mưa đá, mưa tuyết… nhưng tháng 5 thì cây cối bắt đầu đơm hoa rất đẹp nên mới có câu này, ngụ ý rằng khi giông tố qua đi cũng là lúc một sự khởi đầu tốt lành đang đến.


Linh: Nhắc mới nhớ, có một bài hát mà Linh rất thích là bài Always look on the bright side of life. Mỗi khi buồn chán, Linh đều bật bài này lên nghe. Nghe rất “nhộn”, cảm thấy vui vẻ hẳn. Mời các bạn cùng nghe nhé!

[Đọc chi tiết...]


Trò chơi dân gian trong tiếng Anh



Tết này John đã may mắn có thêm nhiều bạn Việt Nam, được các bạn mời đến nhà chơi và được biết thêm rất nhiều phong tục tập quán của ngày Tết. John cũng biết nhiều trò chơi dân gian ở Việt Nam...
John: Chào Linh, chúc mừng năm mới!

Thế là một năm nữa đã qua đi, đáng ra John đã “nhớn” thêm 1 tuổi từ hơn 1 tháng trước rồi, nhưng sống ở Việt Nam phải theo văn hóa của Việt Nam, hơn nữa John cũng thích trẻ nên nhất định đợi đến Tết “ta” John mới thèm… nhớn thêm 1 tuổi!

John: Tết này John đã may mắn có thêm nhiều bạn Việt Nam, được các bạn mời đến nhà chơi và được biết thêm rất nhiều phong tục tập quán (traditions and customs không biết dịch thế đúng không nhỉ) của ngày Tết, lại còn được 3 quà tặng lì xì năm mới từ AAC nữa. Thế còn Tết của Linh thì sao?
Linh: Linh thì Tết năm nay cũng như mọi năm khác thôi. À quên mất, năm nay Linh có một kỷ niệm vừa vui vừa buồn. Đấy là hôm mùng 3 Tết, Linh đang về quê thì bị ném đất bẩn hết cả quần áo.
John: Thế thì có gì mà vui?
Linh Ờ thì cũng hơi buồn vì bộ cánh đẹp bị bẩn hết. Nhưng mà vui vì đã lâu lắm rồi Linh mới được thấy lại cảnh chơi pháo đất ầm ĩ và hào hứng như thế. Pháo đất là mud banger đó anh.
John: À, vậy thì bẩn hết cả quần áo rồi. Các trò chơi dân gian ở Việt Nam anh cũng biết nhiều lắm đấy nhé, anh đã từng tới Hội chợ trò chơi dân gian của AAC 2 lần rồi còn gì, anh cũng được xem nhiều trên tivi nữa.

Flying kite.
Linh Vậy anh John “dạy” Linh mấy trò bằng tiếng Anh nhé, Linh biết không nhiều lắm!
John: “Ok” ngay! Cho trẻ em thì có mấy trò: bamboo jacks, blind man’s buff, cat & mouse game, chanting while sawing wood, spinning tops, Mandarin square capturing, dragon snake…
Linh Linh biết mấy trò mà cả người lớn và trẻ em đều chơi nhé: tug of war, bag jumping, stilt walking, bamboo dancing…

Bamboo dancing.
John: Còn một số trò thì John thấy hơi khó và thấy tính ganh đua cao chỉ thường thấy người lớn chơi như là human chess, flying kite, racing boat, cock fighting, buffalo fighting. À, John cũng đã từng được xem rice cooking competition rồi đấy! 
Linh Vậy là anh John cũng biết khá nhiều trò chơi dân gian của Việt Nam rồi đấy. Bây giờ John & Linh sẽ gợi ý và các bạn độc giả hãy cùng đoán xem các trò chơi dân gian nói trên là gì nhé!
---------------------
Bamboo jacks: Trò chơi với 10 que tre nhỏ và một vật tròn (quả bóng, quả trứng gà, thậm chí là viên sỏi, cục đất sét) trên nền một số bài đồng dao như: Cái mốt, cái mai; Con trai, con hến; Con nhện chăng tơ; Quả mơ, quả mận…
Blind man’s buff: Nếu dịch đơn thuần từ tên tiếng Việt sang tiếng Anh thì trò này sẽ là catching a goat while blindfolded.
Cat & mouse game: Trò chơi với nhiều người đứng nắm tay thành vòng tròn, có 2 người đuổi bắt nhau, người chạy là chuột, người đuổi là mèo, mèo phải chạy qua đúng chỗ mà chuột đã chạy.
Chanting while sawing wood: … ông thợ nào khỏe, thì ăn cơm vua, ông thợ nào thua, thì về bú mẹ.
Spinning tops: Cái này thì dễ rồi, là trò “bổ quay”, “chơi quay”, “con quay”…

Mandarin Square Capturing: Vẽ 1 hình chữ nhật to bao gồm 10 hình vuông chia thành 2 hàng mỗi hang 5 ô. 2 đầu hình chữ nhật vẽ 2 nửa vòng tròn. Mỗi nửa vòng tròn đặt 1 viên sỏi to khác màu nhau, mỗi ô vuông đặt 5 viên sỏi con, mỗi nửa hình chữ nhật có sỏi cùng 1 màu giống màu viên sỏi to…
Dragon snake: Người chơi nắm áo nhau (hoặc bám vào vai, hông) thành 1 hàng dài. Sau khi đọc bài đồng dao đến hết đoạn “Xin khúc đuôi - Tha hồ mà đuổi”, nhân vật thầy thuốc sẽ đuổi và cố bắt cho được người chơi cuối cùng trong hàng.
Tug of war: Người chơi chia làm 2 phe, nắm vào 2 đầu của sợi dây thừng. Khi có hiệu lệnh, 2 bên cùng kéo xem bên nào thắng.
Bag jumping: Người chơi đứng vào bao tải (túi lớn), tay cầm miệng bao, thi xem ai nhảy về đích trước.
Stilt walking: 2 thanh tre (gỗ) dài được tạo mấu để đứng. Người chơi sẽ đứng lên 2 mấu đó, 2 tay cầm đầu gậy và bước đi trên đó.
Human chess: Cờ tướng với các quân cờ là người thật, chơi trên sân rộng có kẻ ô mô phỏng bàn cờ.
Cock fighting/Buffalo fighting: Chọi gà/trâu.
[Đọc chi tiết...]


Trời lạnh, tự dưng John thấy nhớ nhà...



Những ngày trời lạnh như thế này, tự dưng John lại thấy nhớ nhà, nhớ được cùng bạn bè gather around the fireplace, toast our hands and feet in front of the fire, enjoy a mug of coffee…
Linh: Sắp Tết rồi mà vẫn lạnh quá anh John nhỉ. Mùa này ở Anh chắc đang mưa nhiều lắm đúng không anh John? Đợt vừa rồi Hà Nội cũng gần giống nước Anh rồi đấy nhỉ, lạnh ơi là lạnh?
John: Đúng rồi Linh ạ, không những lạnh mà London gần như lúc nào cũng bị bao phủ bởi một màn dense mist.
Linh: Ở Hà Nội lạnh chút chút như vậy mà các cửa hàng quần áo ấm đã bán hàng không xuể. Vậy chứ ở Anh mọi người hay làm gì để cho đỡ lạnh hả anh?
John: Ở Anh có một hệ thống heating system để sưởi ấm. Ra đường thì mọi người luôn bundle up với many layers of clothes, luôn nhớ put on scarf và gloves. Những ngày trời lạnh như thế này, tự dưng John lại thấy nhớ nhà, nhớ được cùng bạn bè gather around the fireplace, toast our hands and feet in front of the fire, enjoy a mug of coffee…

Linh: Còn ở Việt Nam thì phần lớn đi lại  bằng xe máy nên mọi người cũng trang bị cẩn thận lắm anh ạ! Những loại đồ ấm đều được trưng dụng hết công suất: sweater (pullover, jersey, cardigan), chân thì có stockings, boots, tay thì có mittens, gloves. À, một số người còn đeo cả gauze mask và wool hat để giữ ấm đầu nữa.
John: Đúng vậy, việc giữ ấm là vô cùng quan trọng, không thì rất dễ catch a cold, get a running (runny) nose, sneeze hoặc là have a bad cough…

Linh: Nhưng anh John biết không, theo Linh thì “trang bị” như vậy chỉ là điều kiện cần thôi chứ quan trọng nhất là nên vận động nhiều để cơ thể tự sinh ra nhiệt. Đó mới chính là cách tốt nhất để giữ ấm và tránh bệnh trong mùa đông.
John: Ừ, phải đấy. Running, jogging hay walking đều tốt cả.Nếu có điều kiện hơn thì chúng ta nên đến tập tại fitness center (gym) để có một sức khỏe tốt, có thể thích nghi tốt hơn với thời tiết và môi trường. Vào mùa lạnh, các chị các cô còn hay take a sauna, hay go to some hot spring để thư giãn và tránh rét nữa.
Linh: Linh thì có một cách giữ ấm rất hay đó là hạn chế ra ngoài ăn vào mùa đông, siêng năng tự nấu ăn ở nhà. Như vậy vừa đỡ bị lạnh, lại càng ngày nấu ăn càng ngon hơn.
John: Vậy hôm nay Linh thử trổ tài “tránh rét” cho anh một bữa xem tài nghệ đến đâu nào!
Linh: Chuyện nhỏ! Từ nãy đến giờ nói chuyện Linh cũng thấy hơi lạnh rồi.
John & Linh: Xin chào các bạn, hẹn gặp lại vào tuần sau!
Dense /dens/: Dầy đặc, chặt, đông đúc chật chội
Mist /mist/: Sương mù, màn che
Heating system: Hệ thống làm nóng, hệ thống sưởi
Bundle /'bʌndl/ up: Mặc ấm
Gather /'gæðə/ around: Tụ tập xung quanh
Fireplace: lò sưởi
Toast /toust/: nướng (dùng với chân, tay thì còn có nghĩa là “sưởi ấm”)
Mug /mʌg/: (nhiều nghĩa) ca, chén lớn, vại
Sweater / ˈswɛtə /: Áo len dài
Pullover / ˈpulˌouvə /: Áo chui qua đầu (không có khuy, khóa)
Jersey /´dʒə:zi/: Áo nịt len, áo len bó và không có khuy, khóa
Cardigan /´ka:digən/: Áo len có khóa hoặc khuy
Stocking /´stɔkiη/: Vớ, tất dài
Boot /bu:t/: Ủng, giầy ống, “bốt”
Gauze mask /gɔ:zˌma:sk /: Khẩu trang
Mitten /'mitn/: Găng tay (loại không có ngón riêng biệt)
Glove /glʌv/: Găng tay (loại có ngón)
Catch a cold: Bị cảm lạnh
Get a running (runny) nose: Bị sổ mũi
Sneeze /sni:z/: Hắt hơi
Have a cough /kɔf/: Bị ho
Jogging /ˈdʒɒgɪŋ/: Chạy bộ thể dục ở tốc độ rất chậm
Fitness center / gym: Phòng tập (thể dục thể hình)
Take a sauna / ˈsɔːnə /: Tắm hơi
Hot spring: suối nước nóng
[Đọc chi tiết...]


Cảm nhận của John về Tết Việt Nam



Hôm nay, John chia sẻ cảm nhận về Tết “ta” dưới góc nhìn của một người không sinh ra và lớn lên ở Việt Nam…
Tết “ta” sắp đến, một năm nữa sắp đi qua. Đối với John thì năm cũ đã qua được gần 1 tháng rồi nhưng dường như cảm giác háo hức đón chờ cái Tết một lần nữa lại quay trở lại khi không khí chuẩn bị cho Tết Nguyên Đán của Việt Nam đang nhộn nhịp hơn bao giờ hết. Đi đến đâu John cũng nghe thấy câu “chỉ còn hơn 10 ngày nữa là Tết rồi!” hay “Tết đến nơi rồi!”.
Hôm nay, John xin chia sẻ cảm nhận về Tết “ta” dưới góc nhìn của một người không sinh ra và lớn lên ở Việt Nam. Tiếng Việt của John chưa giỏi lắm nên có nhiều từ còn chưa biết đã dịch đúng chưa nên vẫn để nguyên cả tiếng Anh, các bạn kiểm tra giúp John nhé.
Ấn tượng đầu tiên của John về Tết “ta” là khi John về quê một người bạn và thấy người ta set up a pole at the front of the house với rất nhiều joss paper và amulet treo trên ngọn, hỏi ra mới biết đó là Tet pole (Lunar New Year Pole).
Khi về đến Hà Nội thì John lại rất ngạc nhiên khi thấy mọi người buy carp and then go to the lakes to set them free. Thì ra đó là để cho the Kitchen God, he rides the carp to fly back to heaven.

Để đón chào một năm mới, mọi người thường dọn dẹp, sửa sang nhà cửa cho sạch đẹp, sắm đồ đạc và quần áo mới cũng như chuẩn bị đồ ăn, thức uống đặc trưng của Tết. Một số thứ không thể thiếu đó là sugar - preserved fruits, square glutinous rice cake, pickled onion, peach-blossom (ở miền Bắc), ochna (ở miền Nam), kumquat tree, paperwhite flower… Một số gia đình còn treo Dong Ho painting hay calligraphy picture.
On New Year’s Eve, John thấy gia đình cũng rất trang trọng perform a ritual offering to their ancestors, để mời họ về “ăn Tết” với gia đình?
Trước đây, một năm mới được chào đón bởi những tiếng nổ giòn dã của fire-cracker. Bây giờ, thay vào đó chỉ còn là fireworks (vì fire-cracker đã bị cấm).
Người Việt Nam tin rằng the first visitor - the first caller - sẽ ảnh hưởng đến vận mệnh của cả gia đình trong năm mới (chính vì vậy mà John thường không dám tự ý đến chơi nhà ai vào mùng 1 Tết cả). Người ta thường chọn một người with matching age and fate with the host’s to be the first caller. Nếu không chọn được người đó thì tự người chủ nhà sẽ make the departure of the New Year và sau đó sẽ quay về nhà như là the first visitor.
Năm mới John thích nhất là được nhận Lucky money (lì xì) và rất thích go to the Temple of Literature to see old scholars compose parallel sentences. Nhắc đến mới nhớ, người Việt Nam có một phong tục rất hay là Khai bút đầu xuân (begin a new-year writing) với mong muốn có một năm mới “công thành danh toại”. 
Năm nay, John quyết định sẽ vẫn tiếp tục ở lại Việt Nam ăn Tết “ta”, để một lần nữa lại được tận hưởng sự ấm áp giữa mùa đông giá rét.
Chúc tất cả mọi người một năm mới mạnh khỏe và gặp nhiều may mắn!
Joss paper /dʒɔs/:         Vàng mã
Amulet /'æmjulit/:          Bùa
Tet pole (Lunar New Year Pole):          Cây nêu
Carp /ka:p/:                  Cá chép
Kitchen God:    Táo quân
Sugar - preserved fruit: Mứt quả
Square glutinous (/ˈglutnəs/) rice cake: Bánh chưng
Pickled (/pikld/) onion:  Hành muối, dưa hành
Peach-blossom / pitʃ-'blɔsəm/:  Hoa đào
Ochna /'ouknə/:            Hoa mai
Kumquat / ˈkʌmkwɒt / tree:    Cây quất
Paper-white flower: Hoa thủy tiên
Dong Ho painting: Tranh Đông Hồ
Calligraphy (/kə´ligrəfi/) picture: Tranh thư pháp
New Year’s Eve: Đêm giao thừa
Perform a ritual offering to their ancestors: Làm lễ cúng tổ tiên
Fire-cracker /´faiə¸krækə/:        Pháo
Fireworks /´faiə¸wə:ks/: Pháo hoa
First visitor – first caller:            Người đến thăm đầu tiên – người xông đất
The departure of the New Year: Xuất hành đầu năm
Temple of Literature:     Văn Miếu
Parallel (/'pærəlel/) sentences:    Câu đối
[Đọc chi tiết...]


Học các từ chỉ nhà trong tiếng Anh



Hôm nay John & Linh giúp các bạn phân biệt và làm rõ hơn một số từ chỉ các loại nhà khác nhau thường gặp trong tiếng Anh.
John:
Nhà anh, nhà em, cách hai đoạn đường dài
Tuy xa mà gần tuy gần mà xaaaaaa…
Linh: Nghe chữ xa của anh là biết đoạn đường xa bao nhiêu rồi! Hôm nay anh John lại có hứng hát “nhạc vàng” cơ à, ai dạy anh thế?
John: À, anh đang “sưu tầm” các loại nhà. Nhà xa nhà gần rồi này, còn nhà cao nữa nhé:
Dù xa nhau trọn ngày đêm, anh càng yêu em càng hăng say
Xây cho nhà cao, cao mái... ái… ái…
Linh: “Cao mãi” chứ?
John: Thì anh vừa hát “mãi” đấy còn gì, nhưng phải lên như thế nó mới đủ cao chứ!
Linh: Nghe đã thấy cao rồi, cao quá Linh chóng cả mặt suýt ngất rồi đây này.
John: Thực ra thì vừa rồi có bạn hỏi anh về sự khác nhau giữa các loại “nhà” trong tiếng Anh, nên anh mới nhớ đến mấy bài hát mà đi hát karaoke mọi người hay hát. Nhớ mỗi mấy câu đấy thôi, mang ra lòe Linh cho oai một tí!
Linh: Các loại nhà là các loại nhà nào anh?

John: Trong thực tế có rất nhiều loại nhà xây dựng khác nhau với các tên gọi khác nhau. Có những tên gọi theo thói quen, có những tên gọi mang tính chuyên môn. Tuy nhiên trong số đó có một số từ tiếng Anh mà chúng ta hay sử dụng trong giao tiếp đề cập đến một số kiểu “nhà” mà nhiều khi có thể bị lẫn hay chưa rõ nghĩa nên có bạn mới nhờ anh phân biệt một số loại “nhà” này.
Ví dụ như 2 từ rất quen thuộc là Apartment và Flat. 2 từ này thường được sử dụng với cùng một nghĩa là Căn hộ. Tuy nhiên, theo thói quen, có nơi thì những căn hộ nhỏ được gọi là Apartment và những căn hộ lớn hơn, có thể chiếm diện tích cả một tầng sẽ được gọi là Flat.
Tương tự với apartmentbuilding và blockof flats đều có nghĩa là tòa nhà chia thành các căn hộ, tòa nhà căn hộ.
Linh: Giống như chung cư phải không anh John?
John: Cũng không hẳn. Chung cư là condominium (/¸kɔndou´miniəm/). Về cơ bản hình thức thì apartment building và condominium có thể coi là giống nhau. Nhưng với condominium thì các căn hộ được bán cho những người sở hữu khác nhau. Có thể hiểu như nhiều căn hộ của nhiều chủ sở hữu cùng được xây trên một khu đất và các phần không gian chung như sân vườn, hành lang, cầu thang, bể bơi… đều được sở hữu chung. Với apartment building, các căn hộ thường được cho thuê để ở, người thuê không có quyền sở hữu với căn hộ cũng như những không gian chung.
Studioapartment (studio flat), efficiency apartment, bachelor/bachelorette đều có thể hiểu là “căn hộ nhỏ”, diện tích khoảng dưới 40m2 với 1 phòng dùng chung làm phòng ngủ, phòng khách, phòng ăn phòng làm việc và 1 phòng vệ sinh nhỏ. Trong đó thì studio apartment có diện tích nhỉnh hơn cả. Căn hộ tương tự mà không có nhà vệ sinh (chỉ có nhà vệ sinh công cộng ở trong tòa nhà) thì được gọi là bedsit/bed-sitting room, thường diện tích rất rất nhỏ.
Duplex hay duplexhouse có thể hiểu theo 2 cách: căn nhà ngăn cách bằng bức tường ở giữa thành 2 căn hộ riêng biệt hoặc căn hộ 2 tầng với mỗi tầng có thể đóng vai trò là 1 căn hộ hoàn chỉnh.
Linh: Thế Penthouse là gì hả anh, Linh thấy Penthouse thường toàn dành cho khách VIP?
John: Penthouse là tầng trên cùng của một tòa nhà cao tầng.Với một không gian mở, tầm nhìn rộng và khung cảnh đẹp, không gian yên tĩnh, nơi đây thường được xây thành căn phòng đẹp nhất, có thể có cả bể bơi, sân vườn riêng để dành cho mục đích sử dụng cao cấp.
Đối ngược với nó theo anh là basementapartment, căn hộ nằm dưới cùng của tòa nhà, dưới cả mặt đất. Trái ngược với Penthouse, ở đây vừa bí bức, vừa ồn ĩ vì tiếng động xung quanh, tiếng xe cộ đi lại truyền từ mặt đường vào, tiếng động từ tòa nhà trên nó truyền xuống. Nhưng được cái chi phí thuê sẽ rẻ hơn rất nhiều.
John: Duplex thường có 1 cầu thang, vậy đố Linh biết Bungalow thường có mấy cầu thang?
Linh: Linh không mắc mưu anh đâu nhé! Nhà 1 tầng thì làm gì có cầu thang!
John: Linh giỏi quá nhỉ! Bungalow là những căn nhà đơn giản, chỉ có một tầng và không có cả tầng hầm nên không có cầu thang.
Linh: Trong tất cả các loại “house” của anh John thì Linh chẳng thích loại nào lắm. Linh thì chỉ thích Tree house - nhà dựng trên cây, giống trong phim High SchoolMusical thôi.
John: Lại bắt đầu miên man sang chủ đề “xì tin” rồi! Thôi, John phải “chạy” đây các bạn ạ. Linh đã chuyển sang chủ đề “xì tin” rồi, John không “đỡ” nổi đâu!
John & Linh: Xin chào và hẹn gặp lại các bạn vào tuần sau!
[Đọc chi tiết...]


Học danh từ ghép trong tiếng Anh



Học danh từ ghép trong tiếng Anh

Trong tiếng Anh, thường thì một từ trong số các thành tố tạo nên danh từ ghép là 1 danh từ, tuy nhiên cũng có các trường hợp các thành tố tạo nên danh từ ghép đều không phải là danh từ.
Linh: Anh John à, lâu rồi không thấy anh John có những câu đố vừa khó vừa dễ để đố Linh nhỉ?
John: Tưởng Linh không thích bị đố, chứ câu đố kiểu đấy thì anh vẫn còn mà. Đố Linh biết: crossroad, football, mother-in-law, school teacher, Christmas tree, cable TV, sunset có điểm gì chung?
Linh: Tất cả đều không phải là một từ?
Trả lời lung tung quá! Cho trả lời một lần nữa.
Linh: À, Linh biết rồi, tất cả đều là danh từ ghép - compound noun - là những danh từ được tạo nên bởi 2 hay nhiều từ khác nhau.
John: Lần này thì chuẩn rồi! Thường thì một từ trong số các thành tố tạo nên danh từ ghép là 1 danh từ, tuy nhiên cũng có các trường hợp các thành tố tạo nên danh từ ghép đều không phải là danh từ.
Danh từ ghép được coi như 1 từ riêng lẻ, được sử dụng như là một thành tố độc lập trong cấu trúc ngữ pháp, được bổ trợ về nghĩa bởi các tính từ khác.
Linh: Linh thấy danh từ ghép lúc thì được viết gộp lại thành 1 từ, lúc thì ngăn cách nhau bởi dấu ‘-’, lúc thì viết cách hẳn ra như 2 từ riêng biệt. Vậy phương án nào mới là đúng hả anh?
John: Không thực sự có một quy tắc chuẩn nào, như cá nhân anh đều sử dụng theo thói quen. Nếu không chắc chắn về cách viết của mình, chúng ta có thể tra từ điển hay viết theo những tài liệu, văn bản đáng tin cậy.
Như chúng ta đã biết, trọng âm đều được nhấn đối với tính từ và danh từ. Tuy nhiên, nếu như đó là một danh từ ghép được ghép bởi 1 tính từ + 1 danh từ thì trọng âm sẽ không được nhấn ở cả 2 từ nữa. Thay vào đó, trọng âm sẽ nhấn vào từ đứng trước vì danh từ ghép được coi như 1 từ, chỉ nhấn trọng âm 1 lần mà thôi (thường là từ đầu tiên của danh từ ghép).
Điều này rất quan trọng, bởi nó giúp ta phân biệt được người nói muốn đề cập đến green house (ngôi nhà màu xanh) hay greenhouse (nhà kính)…
Linh: Anh John ơi, rất nhiều trường hợp danh từ ghép được ghép bởi các từ đều là danh từ, vậy để chuyển từ số ít sang số nhiều ta thêm ‘s’ (‘es’) vào từ nào?
John: Điều quan trọng là chúng ta phải xác định được đâu là “từ chính” của danh từ ghép đó để thêm ‘s’ (‘es’). Chúng ta có thể căn cứ vào các trường hợp dưới đây để rõ hơn về vấn đề này. Tuy nhiên, cần lưu ý đây chỉ là những cách xác định theo hầu hết các trường hợp để chúng ta dễ phân biệt hơn chứ không phải là đúng với tất cả.
Nếu từ ghép có 1 danh từ và các thành tố khác là tính từ, động từ hay giới từ thì ta thường thêm ‘s’ (‘es’) vào sau danh từ là được. Ví dụ: Swimming pools, greenhouses…
Đối với danh từ ghép có 2 danh từ, hầu hết các trường hợp danh từ đứng trước đóng vai trò như 1 tính từ bổ trợ cho danh từ đứng sau, vì vậy khi chuyển sang số nhiều thì danh từ đứng sau sẽ được thêm ‘s’ (‘es’). Ví dụ: Golf balls, tennis courts, train stations, apple trees…
Có một số ít các danh từ ghép cấu tạo bởi 2 danh từ, khi chuyển sang số nhiều thì phải chuyển cả 2 danh từ. Trường hợp này không nhiều, ví dụ:
         Gentleman farmer - gentlemen farmers (người trại chủ nuôi bò, ngựa… như một sở thích khứ không vì mục đích kinh tế)
          Woman doctor - women doctors (nữ bác sĩ)
Còn lại một số từ không có từ chính rõ ràng thì thường được thêm ‘s’ (‘es’) vào cuối: toothbrushes, check-outs, grown-ups (người trưởng thành), good-for-nothings (người vô tích sự), also-runs (người, vận động viên… tham gia thi đấu mà không được xếp hạng, không đạt giải), higher-ups (người quyền cao chức trọng), go-betweens (người môi giới, trung gian), has-beens (người, vật đã hết thời), take-offs (sự cất cánh, chuyến bay cất cánh), breakdowns (sự suy nhược, sự thất bại, sự hỏng máy)…
Linh: Cám ơn anh John nhé, Linh cứ nghĩ đã biết về danh từ ghép, nhưng nhờ có anh John mà giờ thì Linh đã thực sự hiểu. Lần sau cứ đố mấy câu vừa dễ vừa khó như thế này nữa nhé.
John & Linh: Xin chào và hẹn gặp lại các bạn vào tuần sau!
[Đọc chi tiết...]


Cách nói xin lỗi trong tiếng Anh



Trong tiếng Anh có rất nhiều cách để nói xin lỗi. Chúng ta phải căn cứ vào mục đích của lời xin lỗi đó và mức độ của lỗi để có cách nói cho phù hợp.
John: Lại đến muộn rồi! John chả thể hiểu nổi các chị em phụ nữ sao lại có thể tốn thời gian cho việc trang điểm như thế cơ chứ. Mà đã biết là tốn thời gian trang điểm rồi thì sao không làm từ sớm, cứ để các anh em chúng tôi phải “leo cây dài cổ” thế nhỉ?
Linh: “Ăn sơ-ri”! Không phải tốn thời gian trang điểm mà là do có vụ tai nạn giao thông làm tắc đường nên Linh mới tới muộn một chút. “Ăn sơ-ri, ăn sơ-ri”!
John: Ăn sơ-ri là cái gì?
Linh: Hì, “ăn sơ-ri” có nghĩa là “I’m sorry”. Đợt trước có bác hàng xóm trước khi đi du lịch Hồng Kông đã nhờ Linh phụ đạo cho một buổi tiếng Anh cấp tốc. Bác ý lớn tuổi rồi nên cái gì cũng mất rất nhiều thời gian mới nhớ được. Cuối cùng bác ấy nghĩ ra cách học cấp tốc rất “dân dã” là tự “phiên dịch” tiếng Anh ngược lại sang tiếng Việt.
Linh: “Thank you” thì bác ấy “phiên dịch” thành “thanh củi” cho dễ nhớ, “I’m sorry” thì thành “ăn sơ-ri”. Nỗ lực của người lớn tuổi thật là đáng khâm phục. Từ đó Linh vẫn thường hay nói “ăn sơ-ri” thay vì nói xin lỗi, để lời xin lỗi của mình dễ nghe hơn và đỡ căng thẳng hơn.

Linh: Anh John ạ, Linh vừa nghĩ ra là những lần trước anh đã chia sẻ với Linh cách chào hỏi, cách cám ơn rồi. Vậy hôm nay anh John lại dạy Linh mấy chiêu để xin lỗi đi.
John: Xin lỗi thì cũng có nhiều cách để nói lắm. Chúng ta phải căn cứ vào mục đích của lời xin lỗi đó và mức độ của lỗi để có cách nói cho phù hợp.
Cũng rất khó để có khuôn khổ, tiêu chuẩn nhất định cho những lời xin lỗi vì không thể liệt kê hết được các kiểu lỗi mà chúng ta muốn “xin”. Hôm nay John sẽ ví dụ một số trường hợp điển hình dựa trên quan điểm cá nhân của John để Linh và các bạn độc giả có thể theo đó đó mà “lấy cảm hứng” và áp dụng vào các tình huống của riêng mình.
John: Thông thường, khi muốn xin lỗi về một việc gì, người ta thường nói xin lỗi rồi nêu lên lý do gây ra lỗi đó hoặc biểu lộ sự hối hận hoặc cảm giác “tội lỗi” ở một mức độ nào đó. Đối với những lỗi nhỏ hoặc những lời xin lỗi xã giao thì thường chỉ nói lời xin lỗi mà thôi.
Những từ hay sử dụng trong khi xin lỗi là: sorry (tất nhiên rồi), apologize, excuse, pardon.
John: Excuse me có thể được sử dụng để hỏi lại khi không nghe rõ hay trong những tình huống như khi ta muốn ai đó nhường đường hoặc khi muốn hỏi giờ, hỏi đường một người khác, tương tự với pardon me. Excuse me cũng có thể được dùng khi muốn thu hút sự chú ý của người khác hay gọi người khác một cách lịch sự (Excuse me sir/madam…).
Sorry thì khá là quen thuộc, được dùng phổ biến nhất trong nhiều ngữ biểu thị các mức độ khác nhau:
I’m sorry!
I’m very/so sorry!
I’m terribly sorry! (biểu cảm rất mạnh)
Ever so sorry (tương tự I’m sorry nhưng thường sử dụng trong các ngữ cảnh trang trọng hơn)
Apologize thường sử dụng trong các ngữ cảnh lịch sự, trang trọng.

John: Ngữ nghĩa thì chắc hẳn chúng ta đều nắm rõ, quan trọng là ứng dụng hợp lý vào các tình huống và cách diễn đạt làm sao không bị gượng gạo. Chúng ta hãy cùng xem qua một vài ví dụ trong đa dạng các tình huống:
-         Sorry, how stupid/careless/thoughtless of me/I was!
-         That's my fault!
-         I’m so sorry! It was entirely my fault!
-         Please excuse my ignorance!
-         Please don't be mad at me! (rất thân mật)
-         Please accept my (deepest/sincerest) apology! (trang trọng)
-         My sensitivity was on vacation that day and I'm so sorry!
-         I hope you can forgive me for what I’ve done!
-         I was so inconsiderate and I apologize!
-         Forgive me, I was wrong!
-         I hope that someday you'll be able to forgive me for (something)!
-         You were right, I was an idiot! (biểu cảm rất cao)
-         I must beg your forgiveness for my outspoken and insensitive remarks!
-         Please forgive me for being so late! It was inexcusable.
-         Please accept my apology! My actions proved how thoughtless I could be.
-         I'm to blame for this mess/I messed up, and I would like to make amends
-         Sorry, it was inexcusable! My face gets red every time I remember that night.
Linh: Đủ rồi anh John. Linh nghĩ để nhớ hết và “biến hóa” theo tình huống và cách dùng của mình thì Linh và các bạn độc giả cũng tốn không ít thời gian rồi.
John: Đúng vậy. Nhìn thì rất đơn giản, ai trong chúng ta hầu như cũng có thể hiểu được ý nghĩa và mức độ biểu cảm của các ví dụ trên nhưng để sử dụng nhuần nhuyễn theo ý mình thì cũng đòi hỏi một thời gian để làm quen.
Cũng lưu ý các bạn:
-         Xin lỗi là rất quan trọng nhưng trong giao tiếp không nên quá nghiêm trọng hóa vấn đề khi không cần thiết.
-         Không cần thiết nhắc đi nhắc lại nhiều lần lời xin lỗi, có thể làm người nghe có cảm giác khó chịu.
-         Chỉ đề cập đến lỗi cụ thể, không nên nói lan man hay giải thích dài dòng.
John & Linh:  Xin hẹn gặp lại vào tuần sau, chúc các bạn thành công!
[Đọc chi tiết...]


Thú vị những từ phát âm giống nhau trong tiếng Anh



Thú vị những từ phát âm giống nhau trong tiếng Anh

Trong tiếng Anh, ngoài những trường hợp 1 từ được dùng nhiều cách, một từ giống nhau có nhiều nghĩa thì còn có những trường hợp các từ/cụm từ phát âm tương tự hoặc thậm chí là phát âm giống nhau 100% nhưng lại là những từ hoàn toàn khác biệt.

 >> Học cách tư duy bằng tiếng Anh
John & Linh: Xin chào các bạn!
Linh: Sau khi đọc bài Học cách tư duy bằng tiếng Anh, rất nhiều bạn đọc đã gửi bình luận, nêu lên rất nhiều ý kiến của mình về câu chuyện vui về cách diễn đạt trong tiếng Anh. Thực ra, đây là một câu chuyện có thật, nhưng đã được thêm chút “mắm muối” nhằm mang đến cho các bạn một vài giây phút thư giãn.
John: Mấu chốt của vấn đề ở chỗ, “stand by” có thể hiểu là đứng (stand) cạnh (by), nhưng ý của người nói lại là “standby” - chế độ chờ. Do việc diễn đạt chưa được khéo léo, làm cho nghĩa của cả câu bị hiểu sai.
Linh: Vậy, đáng ra, tấm biển (hay nói đúng hơn là mẩu chỉ dẫn) phải được viết như sau:
            “Please put the photocopy machine (photocopier, copier, copy machine) on standby (into standby mode) after use”
Đúng không anh John?
John: Trong tiếng Anh, ngoài những trường hợp 1 từ được dùng nhiều cách, một từ giống nhau có nhiều nghĩa thì còn có những trường hợp các từ/cụm từ phát âm tương tự hoặc thậm chí là phát âm giống nhau 100% nhưng lại là những từ hoàn toàn khác biệt.
Linh: Vậy làm thế nào để có thể phân biệt được chúng?
John: Chúng ta cần chú ý phân biệt dựa trên các cấu trúc ngữ pháp và ngữ cảnh mà từ được sử dụng. Dưới đây là một câu chuyện rất “hồi hộp” và “kịch tính” mà anh đã rất bất ngờ khi nghe đến đoạn kết. Tuy nhiên anh sẽ không kể lại mà sẽ viết ra để Linh và các bạn độc giả tiện theo dõi.
Stop Following Me!
“A man was walking home alone one night when he heard a “BUMP....BUMP....BUMP..." behind him. Walking faster, he looked back, making out an image of an upright (thẳng đứng) coffin (quan tài) banging its way down the middle of the street towards him...."BUMP...BUMP...BUMP..."
The man began to run toward his home, and the coffin bounced (nảy tưng tưng) after him faster....faster...BUMP BUMP BUMP!



He ran up to his door, fumbled (lóng ngóng) with his keys, opened the door, rushed in, and locked it behind him. The coffin crashed through (đâm sầm xuyên qua) his door, with the lid (nắp) of the coffin clapping BUMP...BUMP...BUMP... on the heels of (theo sát ngay sau) the terrified man. The man rushed upstairs to the bathroom and locked himself in, heart pounding (đập thình thịch).
With a CRASH (tiếng đổ sầm), the coffin broke down the door, coming slowly toward him. The man while screaming, reached for something, anything....all he can find was a box of cough drops (thuốc ho) which he hurled (ném mạnh) at the coffin.
…
…and suddenly "the coffin stops!"
John: Câu chuyện khá là hồi hộp và gay cấn, nhưng cuối cùng chỉ là một sự chơi chữ (a pun), dựa trên những từ phát âm giống hệt nhau. Theo các bạn, sự chơi chữ nằm ở đâu và như thế nào?
Linh: Chúng ta hãy cùng tìm hiểu để thấy rằng, học tiếng Anh đôi khi cũng thú vị đấy chứ!
[Đọc chi tiết...]


Học cách tư duy bằng tiếng Anh



Để cải thiện tiếng Anh, ngoài vấn đề về phát âm, người Việt Nam khi học và sử dụng tiếng Anh nên chú ý tới việc tư duy bằng tiếng Anh và diễn đạt theo cách của người bản ngữ.
John & Linh: Xin chào các bạn!
Linh: Anh John ơi, theo anh thì hiện tại việc học và sử dụng tiếng Anh đối với người Việt Nam có những vấn đề khó khăn gì và nên chú ý làm gì để cải thiện?
John: Theo anh thì ngoài vấn đề về phát âm thì các bạn Việt Nam khi học và sử dụng tiếng Anh nên chú ý tới việc tư duy bằng tiếng Anh và diễn đạt theo cách của người bản ngữ.
Linh: Nếu không tư duy bằng tiếng Anh thì khi muốn nói gì đó, chúng ta phải dịch từ tiếng Việt sang tiếng Anh. Quá trình này thường tốn nhiều thời gian và hay làm cho “câu cú” của chúng ta bị “lủng củng”, đúng không anh John?
John: Đúng vậy, nếu không diễn đạt theo cách của người bản ngữ thì “văn” của chúng ta sẽ thiếu sự “mượt mà”, dễ gây khó hiểu cho người nghe, đôi khi còn gây ra những hiểu lầm trong giao tiếp.
Để giải quyết được 2 vấn đề này, các bạn hãy đừng chỉ học tiếng Anh trên sách vở mà hãy xem phim, nghe nhạc... bằng tiếng Anh. Hãy cố gắng tiếp xúc với tiếng Anh càng nhiều càng tốt. Quá trình này sẽ làm chúng ta quen thuộc với các từ ngữ, cấu trúc ngữ pháp tiếng Anh một cách tự nhiên nhất, chúng ta dần dần sẽ thực sự “ngấm” những kiến thức đã học được qua sách vở hay học được từ thầy cô giáo.
Linh: Theo Linh thấy thì khi giao tiếp với người bản ngữ, nếu quan hệ phù hợp, chúng ta hãy thẳng thắn đề nghị họ sửa lỗi cho chúng ta. Như là Linh với anh John vậy!
John: Có những cách diễn đạt bằng tiếng Việt dịch sang tiếng Anh nghe không hề xuôi, không rõ nghĩa. Đó là chưa kể đến nhiều khi chúng ta nhầm lẫn giữa những từ, những ngữ “có vẻ” giống nhau, gây ra sự khác biệt hoàn toàn về nội dung.
John xin mạn phép lấy một “câu chuyện” sưu tầm từ trang cá nhân của một người nước ngoài đang sống tại Việt Nam để minh họa:
-         Why are you standing there?
-         Just out of curiosity. I’ve stood by this machine for hours but nothing happened!
-         But why?
-         Did you not see the sign?
-         What sign?
-         Here:

-         Maybe you were on the wrong side!
-         Yeah, I’ve just changed to the left for only a few minutes.
…
John: Theo các bạn, sự hiểu lầm ở trong câu chuyện này là ở đâu và như thế nào mới là đúng?
[Đọc chi tiết...]


Cách phát âm “s” trong tiếng Anh



Cách phát âm “s” trong tiếng Anh

Trong tiếng Anh, “s” ở cuối các từ rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất lớn đến nghĩa của từ và câu, vì vậy cần lưu ý phát âm đủ và cũng tuyệt đối lưu ý không tự ý thêm âm “s” vào khi nói. Đó là một thói quen không tốt và có hại về lâu dài.
John: Linh đang làm gì đấy mà mồm cứ “nhồm nhoàm” thế kia?
Linh: A, chào anh John! Có gì đâu, Linh tập… uốn lưỡi để phát âm chữ “r” cho chính xác hơn ý mà. “S” Linh phát âm còn tạm ổn chứ “r” thì vẫn còn cứng lắm nên thành ra lại lười phát âm chữ “r”.
John: Lười thế là không tốt, nhưng anh thấy một số bạn lại… “chăm quá”, cũng không tốt chút nào!
Linh: Ý anh là sao?
John: Ý anh là một số bạn phát âm “s” và “r” quá nặng nề do cố gắng quá mức và không tự nhiên, hơn nữa lại còn tự động thêm quá nhiều “s” và “r” vào hầu như khắp các từ trong câu. Việc này làm cho người nghe rất khó hiểu và với cá nhân anh thì tự dưng có cảm giác rất căng thẳng và nặng nề.
Linh: Có một điều này Linh muốn hỏi anh John nhé. Chúng ta thường thêm s hoặc ‘s với danh từ số nhiều, chia động từ ngôi 3 số ít và sở hữu cách. Đa số các trường hợp này ta chỉ cần phát âm thêm s ở đằng sau. Một số trường hợp trong đó thì không thêm s mà thêm es (hoặc chỉ thêm s nhưng đã có sẵn e ở cuối từ vd: Rose -> Roses). Lúc này es sẽ thành một âm tiết mới (vd: Watch -> Watches). Tuy nhiên trong một số trường hợp, chỉ thêm s thôi nhưng vẫn tạo nên một âm tiết nữa cần phát âm. Đúng không anh John?
John: Gần đúng như vậy. Thực ra không hẳn là do s hay es. Ví dụ như tastes vẫn chỉ phát âm là /teists/, tức là cũng như taste và chỉ thêm âm s đằng sau thôi. Để xét xem có tạo thành một âm tiết riêng biệt hay không thì cần phải xét đến âm phát âm cuối của từ đó. Trong các trường hợp như Linh vừa nói, khi thêm s vào sau các từ kết thúc bằng các âm sau thì sẽ tạo thành một âm tiết nữa để phát âm (/iz/):
/s/         Chris’s kisses, the nurse’s purses, Max’s faxes
/∫/         Trish’s wishes
/z/         Rose’s roses
/t∫/        The witch’s watches
/ʤ/       George’s fridges

John: S ở cuối các từ rất quan trọng, nó ảnh hưởng rất lớn đến nghĩa của từ và câu, vì vậy cần lưu ý phát âm đủ và cũng tuyệt đối lưu ý không tự ý thêm âm s vào khi nói. Đó là một thói quen rất không tốt và rất có hại về lâu dài!
Rất nhiều người bản ngữ có xu hướng lược bớt các phụ âm trong khi nói khi từ được kết thúc bằng âm s và trước đó có nhiều phụ âm khác. Ví dụ contracts /'kɔntrækts/ thường được phát âm thành /'kɔntræks/ (lược mất t). Chúng ta cũng cần lưu ý điều này để không nhầm lẫn giữa các từ khi người nói lược mất một số phụ âm khi nói:
(She never sends birthday cards.
The lift’s broken.
It tastes funny.
That’s what he expects.)
Linh: Ồ, giờ thì Linh mới rõ về các quy tắc này. Cám ơn anh John nhiều nhé.
John: Các bạn hãy thử xem các động từ sau đây khi chuyển sang ngôi 3 số ít sẽ chỉ phát âm thêm /s/ hay sẽ tạo thành một âm tiết /iz/ nữa nhé.
Linh: Chúc các bạn thành công và hãy nhớ lời khuyên của anh John nhé:
“Đừng quên phát âm âm s nhưng cũng đừng chăm chỉ cho thêm s vào khắp các từ”
John & Linh: Xin chào và hẹn gặp lại!
[Đọc chi tiết...]


1.001 cách nói “cảm ơn” trong tiếng Anh



Trong tiếng Anh, có nhiều cách để nói “cám ơn”, tùy vào hoàn cảnh và mức độ của sự việc. Tuy nhiên, ranh giới giữa các “mức độ biết ơn” cũng không rõ ràng lắm, cùng một câu nhưng sử dụng với ngữ điệu khác nhau thì cũng đem lại những hiệu quả khác nhau.
Linh: Linh đố anh John biết Linh có 2 câu cửa miệng nào luôn được sử dụng hết công suất khắp mọi nơi mọi lúc không?
John: Dễ ợt, chả phải riêng Linh mà anh cũng sử dụng 2 câu đấy mọi nơi mọi lúc. Đó là “Cám ơn!” và “Xin lỗi!” đúng không?
Linh: Anh John giỏi thật đấy, cái gì cũng biết nhỉ! Thực ra Linh thấy khi nói bằng tiếng Việt, Linh thường chỉ dùng “cám ơn”, “em/cháu cám ơn” hay “cám ơn anh/chị/cô/chú…”, “cám ơn nhiều” chứ không đa dạng như khi Linh nói cám ơn bằng tiếng Anh.
Tất nhiên không phải bởi tiếng Việt không phong phú, mà là do Linh chỉ quen dùng như vậy, còn nếu sử dụng một số cách diễn đạt khác thì cứ thấy “ngại miệng” thế nào ấy.

John: Chắc tại do thói quen của Linh thôi. Trong tiếng Anh thì cũng có nhiều cách để nói “cám ơn”, tùy vào hoàn cảnh và mức độ của sự việc. Tuy nhiên, ranh giới giữa các “mức độ biết ơn” cũng không rõ ràng lắm, cùng một câu nhưng sử dụng với ngữ điệu khác nhau thì cũng đem lại những hiệu quả khác nhau.
Linh: Hay hôm nay chúng ta thi nhé anh John, nhân cơ hội này Linh cũng tranh thủ “ôn bài” luôn. Chúng ta lần lượt liệt kê ra các câu biểu hiện sự biết ơn nhé, mỗi người chỉ có tối đa 5 giây để đưa ra phương án tiếp theo, nếu không thì sẽ thua cuộc.
John: Ok! Cũng coi như đây là cơ hội anh được cám ơn Linh vì những gì Linh đã ủng hộ và giúp đỡ anh trong thời gian qua.
Thanks, Linh!
Linh: Thanks a lot!
John: Many thanks!
Linh: Thanks to you!
John: Thank you very much!
Linh: Thank you so much!
John: I really appreciate it!
Linh: I really appreciate your help with my project!
John: Thank you, without your support, I wouldn’t have been able to make such progress in learning Vietnamese!
 Linh: Thank you, I really enjoyed the surprise birthday party you threw (một sự kiện hay một đồ vật…)!
John: Thank you, I truly value... (mang tính khách sáo cao, trịnh trọng, thường dùng với kiểu your contribution to the company hoặc tương tự)!
Linh: I’m grateful for having you as a friend!
John: There are no words to show my appreciation!
Linh: How can I ever thank you?
John: How can I ever possibly thank you?
Linh: Thanks a million for... !
John: You have my gratitude!
Linh: How can I show how grateful I am for what you did?
John: Ehm… Gracias, Merci beaucoup!
Linh: Anh John lại định “lừa” Linh à, đấy là tiếng Tây Ban Nha với tiếng Pháp chứ.
Không biết đâu, anh thua rồi nhé!
John: Đùa Linh chút thôi mà. Thực ra thì đang muốn mời Linh đi ăn trưa nên coi như anh thua tại đây chứ nếu tiếp tục chắc đến tận chiều mình mới thi xong mất.
Linh: Còn Linh thì thực ra cũng “hết vốn” rồi, anh John mà thêm 1 câu nữa thôi là Linh “tắc tị” ngay.
John: John và Linh đi ăn phở đây, xin chào các bạn độc giả! Các bạn hãy luyện tập cho quen và nhớ để ý đến ngữ cảnh để có thể áp dụng các ngữ trên một cách phù hợp nhất nhé.
John & Linh: Hẹn gặp lại!
[Đọc chi tiết...]


Một số chú ý khi giao tiếp bằng tiếng Anh



Để bày tỏ sự quan tâm tới câu chuyện cũng như ngầm thông báo rằng “tôi vẫn đang nghe đây”, cuối mỗi đoạn, khi người nói dừng lại, người nghe nên hưởng ứng bằng cách phát ra các âm thanh “uh huh”, “mmm”… hoặc các câu cảm thán “oh no!”, “really?”, “oh my god!”, “is it for real?”…
 >> Để tránh bị ngắt lời khi nói tiếng Anh
 >> Phải làm gì khi nghe tiếng Anh mà không hiểu?
Trong một số bài viết gần đây, John & Linh đã chia sẻ với các bạn một số kinh nghiệm để giao tiếp tiếng Anh tự nhiên hơn và hiệu quả hơn. Hôm nay, trước khi đi vắng, anh John vẫn không quên “dặn dò”, nói Linh ở nhà phải “thế này”, phải “thế nọ”, dù lúc đó anh John đã sắp bị muộn rồi. 
Để John khỏi muộn, Linh phải “hưởng ứng nhiệt tình” những gì anh ấy nói cho anh ấy yên tâm chứ thực ra lúc đó Linh cũng chưa biết sẽ chia sẻ với mọi người về vấn đề gì. Nhưng bây giờ thì Linh nghĩ ra rồi. Hôm nay chúng ta sẽ trao đổi một chút về việc “tung hứng” cũng như một số chú ý trong giao tiếp bằng tiếng Anh nhé. (Trong các bài viết trước, John & Linh đã đề cập đến việc sử dụng các từ/âm thanh lấp vào các chỗ gián đoạn khi nói hay cách phản ứng khi nghe chưa rõ.)
Trong giao tiếp, có những lúc chúng ta muốn tường thuật lại một việc gì đó, có khi là một tình tiết, một sự việc ngắn gọn nhưng cũng có khi là một câu chuyện dài hơn với nhiều thông tin và tình tiết mà người nói sẽ tách ra thành những đoạn nhỏ để nói.


Để bày tỏ sự quan tâm tới câu chuyện cũng như ngầm thông báo rằng “tôi vẫn đang nghe đây”, cuối mỗi đoạn, khi người nói dừng lại, người nghe nên hưởng ứng bằng cách phát ra các âm thanh “uh huh”, “mmm”… hoặc các câu cảm thán “oh no!”, “really?”, “oh my god!”, “is it for real?”… hay phụ họa bằng cách đặt những câu hỏi gợi ý hoặc yêu cầu cung cấp thêm thông tin như “and?”, “so what happened?”, “what did you do?”, “what do you mean?”… (điều này được thể hiện rõ qua đoạn ghi âm phía dưới)
Lưu ý rằng ngoài các câu cảm thán, “sự phụ họa” thường được nói với một tông thấp (biểu thị rằng “tôi chỉ phụ họa thôi”) chứ không lên giọng (lên giọng ở đây sẽ có hàm ý rằng “tôi đang muốn nói thêm”, tham khảo đoạn ghi âm phía dưới).
Về phần người nói. khi tường thuật, lại thường sử dụng 2 từ “well” và “anyway”.
“Well” thường được sử dụng với hàm ý rằng “tôi đang trả lời câu hỏi của anh” (chứ không phải đang tiếp tục câu chuyện của tôi).
Cũng có khi, người nghe không đặt câu hỏi nhưng người nói cảm thấy cần cung cấp thêm thông tin về một vấn đề hay chi tiết nào đó để người nghe có thể hiểu rõ câu chuyện hơn (trong đoạn ghi âm, người nói đã sử dụng “you know, my identity card” để làm rõ thêm về “my ID card”).
Sau khi phản hồi các câu hỏi của người nghe hay cung cấp thêm các “thông tin nền” như trên, người nói cần “ra hiệu” rằng tôi đang trở lại với câu chuyện của tôi bằng cách dùng “anyway”.
Các bạn hãy theo dõi đoạn ghi âm dưới đây để xem cách sử dụng và ngữ âm khi nói theo kiểu của người bản ngữ đối với các từ/cụm từ Linh cung cấp. Sau đó các bạn có thể tham khảo nội dung đoạn ghi âm ở cuối bài, với các phần in đậm, để có khái niệm rõ ràng hơn nữa.
Cuối cùng là đừng quên luyện tập theo nhé!
Chúc các bạn thành công!
(A:       I nearly got arrested, you know, the other day.
B:         You what… arrested? What do you mean?
A:        Well, I’m doing this project on graffiti, you know, at college, and ehm… so I have to take lots of photos of graffiti and…
B:         Uh huh
A:        So anyway, I saw this train with some amazing graffiti on the side, so I went there to ehm… take a photo of it. The thing is, it was a bit far from the platform…
B:         So what happened?
A:        Well, I walked along next to the lines, and then these two ehm… station police came along and said I shouldn’t be there, so ehm… they took me to the office, and then they asked for my ID card, you know, my identity card…
B:         Mmm?
A:        Well, I didn’t have it. I left it at home that day.
B:         Oh no!
A:        Yeah, so anyway, then they didn’t know what to do with me, so ehm… I said, “Look, I’ll leave my camera here and I go home to get my ID card”. In the end, they agreed, so I did that, and they ehm…had a look at my ID number, and then just let me go…).
[Đọc chi tiết...]


 
Trở lại Đầu trang Copyright © 2010 ViOlympic Tiếng Anh Online - Olympic Thi Anh Văn - Luyện Thi ViOlympic Tiếng Anh - Luyện Thi Olympic Anh Văn - IOE Thi Tiếng Anh Trên Mạng Internet - Anh Ngữ Sinh Động - Anh Văn Cuối Tuần - ViOlympic Tiếng Anh - IOE Tiếng Anh - Olympic Tiếng Anh Lớp 123456789101112 www.luyenthianhvan.net. Embedded content, if any, are copyrights of their respective owners. All right reseved.